みずうみ (Mizuumi)
©2005 Banana Yoshimoto
Tam Diệp Thảo dịch từ bản tiếng Anh
The Lake ©2011 Melville House Publishing
(eISBN: 978-1-935554-69-1)
Lần đầu
Nakajima nghỉ lại nhà, tôi đã mơ thấy người mẹ quá cố của mình.
Có lẽ vì cậu đã ở lại bên tôi, sau một
thời gian dài chỉ mình tôi cô độc.
Tôi đã
không nằm cạnh ai kể từ khi tôi và cha ngủ lại trong phòng bệnh của mẹ.
Cứ mỗi lúc tôi lại giật mình tỉnh giấc,
nhẹ nhõm thấy mẹ vẫn còn thở, rồi lại chìm vào giấc ngủ. Sàn nhà trong bệnh viện
bụi bặm hơn bạn tưởng, và tôi nằm đó nhìn chăm chăm vào cuộc băng gạc bị vứt đấy
từ trước. Tôi thấy khó ngủ, và cứ hễ vướng mình trong cơn thao thức đó, tôi lại
nghe thấy tiếng bước chân của những y tá đi dọc hành lang. Tôi nhận ra bao bọc quanh
mình là những con người có thể sẽ chết bất cứ lúc nào, và kỳ quặc làm sao khi
chính sự hiện diện của họ lại khiến tôi thấy nơi đây, trong cái bệnh viện này,
lại thanh thản hơn nhiều so với ngoài kia.
Khi
đã giá buốt rét người, nằm bụi gai bạn cũng thấy yên lòng ấm áp.
Tôi
đã không mơ thấy mẹ kể từ
hồi bà mất.
Đúng
ra thì bà cũng đôi lúc xuất hiện giữa những mảnh ghép rời rạc trong cơn mơ khi
tôi đã trôi vào giấc ngủ, nhưng mãi đến đêm qua, chưa lần nào bà hiện hữu một
cách rõ rệt hay lâu đến vậy. Không hiểu sao khi tỉnh giấc, tôi có cảm giác, rất
thật, như mình lại ở bên mẹ sau thời gian dài xa cách.
Nói
như thế về một người đã mất thì kỳ quái thật, nhưng tôi cảm thấy vậy.
Bạn
có thể nói rằng mẹ tôi có hai gương mặt khác biệt. Hai bản thể cùng tồn tại
trong bà, đến và đi, như hai nhân cách riêng biệt.
Một
mặt hòa đồng và vui vẻ, người phụ nữ sống đời mình cho từng giây phút và dường
như là một người hay ho đáng để quen biết; mặt khác lại cực kỳ mong manh, cứ
như một bông hoa to mềm mại, nhẹ nhàng rũ mình trên cuống lá, trông như thể chỉ
một làn gió thoảng cũng đủ cuốn rơi những cánh hoa kia.
Mặt
tinh tế như đóa hoa đó không dễ gì thấy được, mà mẹ tôi, một người luôn cố làm
hài lòng người khác, lại càng ra sức vun bón cái tích cách nhiệt tình, dễ dãi của
mình. Dùng thật nhiều tình yêu mà tưới cho nó, còn hơn cả tưới nước cho hoa,
chăm bón nó bằng sự tán thành của mọi người.
Khi tôi sinh ra, mẹ và cha vẫn chưa
cưới nhau.
Cha
tôi là giám đốc một công ty xuất-nhập khẩu nhỏ ở một thị trấn vùng ven Tokyo,
và mẹ tôi là bà chủ khá tươi tắn, “má mì”, một câu lạc bộ sang trọng trong khu
ăn chơi ở cùng thị trấn đó.
Một
đêm nọ, đối tác làm ăn mời cha tôi đi uống và đưa ông đến quán của mẹ. Cha tôi
đổ ngay cái lúc ông vừa nhìn thấy mẹ. Bà cũng có cảm tình với ông. Khi quán đến
giờ đóng cửa, họ đi đến một nhà hàng Hàn Quốc và gọi đủ các món, tán chuyện và
cười như điên, ăn uống cùng nhau như những người bạn lâu năm. Cha tôi quay lại quán
đêm sau đó, và đêm kế, và kế nữa, ngay cả khi trời đổ tuyết – ông đến thường
xuyên đến nỗi chỉ trong hai tháng họ đã thành đôi thành cặp. Cứ nghĩ cái cách
mà họ gặp gỡ, thời gian hai tháng thật cũng khá dài. Đủ chứng tỏ là họ thật
lòng muốn đến bên nhau.
Hai
người luôn trả lời giống nhau khi tôi hỏi có gì khiến họ cười nhiều đến vậy.
“Vì
nhà hàng đó chẳng có người khách Nhật nào cả, cha mẹ chỉ tình cờ ngang qua khi
đang loanh quanh vào lúc nửa đêm. Và cả hai không hiểu nổi thực đơn viết gì,
nên cuối cùng đã gọi đại tùm lum món, rồi người phục vụ cứ mang ra hết món này
đến món khác, những món ăn chẳng biết là món gì, vài món nồng mùi kinh khủng,
và phần ăn cũng nhiều hơn chúng ta nghĩ … thật buồn cười.”
Tôi
chẳng thấy buồn cười chút nào.
Tôi
nghĩ đêm đó đơn giản là họ thấy hạnh phúc khi có thể ngồi bên nhau đến nỗi ngây
ngất vì phấn khích. Tôi chắc là họ đã chịu đủ mọi loại áp lực ngoài xã hội, thế
mà trước mặt tôi họ luôn ngọt ngào với nhau. Thật ra thì họ vẫn cãi nhau suốt,
nhưng cả chuyện đó cũng thật đáng yêu – như bọn trẻ nhỏ tranh cãi với nhau vậy.
Mẹ thật
lòng muốn có con, và bà mang thai tôi ngay lập tức; nhưng kể cả khi đó cha mẹ
tôi vẫn không chính thức kết hôn. Chuyện không như mọi người nghĩ. Lúc ấy, cha
tôi vẫn chưa lập gia đình và ông cũng chẳng có người đàn bà nào khác.
Họ hàng của
ông mới là vấn đề. Họ cứ chõ mõm vào phản đối cuộc hôn nhân, và cha thì không
muốn kéo mẹ vào cuộc tranh cãi ấy. Vậy nên tôi lớn lên như một đứa trẻ có cha
nhưng lại ngoài giá thú.
Bạn
hẳn đã nghe nhiều về những gia đình giống chúng tôi. Nhưng không, cha tôi ở nhà
nhiều hơn là vắng mặt, và tôi chẳng thấy bất hạnh chút nào.
Trừ việc
chán ngấy cái cuộc sống nơi đây.
Chán
ngấy cái thị trấn, chán ngấy cảnh sống này, chán mọi thứ. Tôi nóng lòng muốn chạy
trốn khỏi tất cả. Tôi gần như đã tự thuyết phục mình rằng mẹ tôi mất đi âu cũng
hay, vì từ nay tôi sẽ mãi mãi không bao giờ phải trở về nơi đó. Trừ mỗi việc sẽ
không gặp cha thường xuyên như trước nữa, còn thì tôi chẳng hối tiếc điều gì.
Cha đã bán căn hộ nơi mẹ và tôi từng sống, để nó khỏi trở thành miếng mồi trong
một cuộc xâu xé lẫn nhau giữa những người họ hàng của ông, rồi gửi hết tiền vào
tài khoản ngân hàng cho tôi. Tôi thấy đại loại như mình vừa được bù đắp cho cái
chết của mẹ, và tôi không thích vậy; nhưng cũng phải nói, khoản tiền đó đúng là
phần thừa kế mẹ dành cho tôi. Và đó là tất cả những gì tôi cần để được tự do.
Giờ thì chẳng còn gì ở quê nhà cho thấy từng có tôi tồn tại nơi đấy. Thì vậy, nhưng
thật tôi chẳng thấy buồn gì.
Lấy
cái quán của mẹ tôi làm ví dụ: Khi đến đó ban ngày, trông nó tối tăm và có phần
bẩn thỉu, lại còn ngai ngái mùi bia rượu và thuốc lá. Cảm giác nơi đó trống rỗng
đến cùng cực. Và khi tiệm giặt ủi gửi về những bộ trang phục hào nhoáng của mẹ,
dưới ánh sáng ban ngày, tôi thấy chúng hời hợt và rẻ tiền một cách thảm hại.
Vo
vén lại hết mọi cảm xúc đó là cái cách tôi nghĩ về thị trấn quê mình.
Nó
vẫn vậy, kể cả khi giờ đây tôi đã bước sang độ tuổi ba mươi.
Lần
cuối gặp mặt cha, ông chằm chằm nhìn tôi với đôi mắt rưng rưng.
Càng
lớn tôi càng trông giống mẹ.
“Thật
phí hoài – khoảng thời gian đẹp nhất của cuộc đời vẫn còn phía trước. Cha mẹ đã
mong lúc về già, sẽ thanh thản, đi đây đó cùng nhau. Chúng ta định sẽ lên tàu
đi một chuyến vòng quanh thế giới. Giá biết được chuyện sẽ thế này, chúng ta đã
đi và thực hiện tất cả những dự định đó, thay vì cứ viện lý do công việc, rằng
mẹ con chẳng tìm đâu ra thời gian, chẳng thể nào rời khỏi quán.”
Tôi
chắc là cha cũng đã ăn chơi không ít khi ông còn trẻ, khi mà ông còn bia rượu
được và cũng khoái giao du, nhưng theo tôi biết thì ông chưa từng thật sự
nghiêm túc với một người phụ nữ nào khác sau khi đến với mẹ.
Cha
tôi cứ tưởng mình cũng ra dáng dân chơi, và mặc dù đã cố sắm vai diễn ấy, rõ
ràng cũng chỉ được cái mã ngoài. Ông là loại đàn ông mà dù bạn nhìn cách nào
cũng thấy lộ vẻ khù khờ - tệ hơn nữa, ông là hình ảnh hoàn hảo của một lão
trung niên quê mùa đầu hói. Chẳng chút mảy may nào hấp dẫn gợi tình. Một người
hoàn toàn nhàm chán. Quá đứng đắn đến độ một tay chơi chính hiệu sẽ phải phá
lên cười khi nhìn thấy ông.
Trong
thâm tâm, cha tôi chỉ là một người đơn giản, nhưng vị trí của ông, cái áp lực
phải tiếp quản công việc làm ăn của cha mình, đè lên ông nặng nhọc, mà ông thì dường
như chưa bao giờ thấy khao khát trút bỏ gánh nặng đó. Thế nên, suốt đời mình ông
cứ mãi loay hoay chạy theo guồng máy, làm bất cứ điều gì cần phải làm để ép
mình vào một khuôn đúc đã định sẵn. Con trai một gia đình địa chủ giàu có. Chủ
tịch một công ty xuất nhập khẩu tỉnh lẻ. Ít ra, đó là những điều tôi nghĩ về
ông.
Tôi
đoán mẹ tôi là tất cả những gì ông có – đóa hoa duy nhất tỏa hương tự do.
Ông
luôn thận trọng không bao giờ để công việc bên ngoài len vào khoảng không ông sẻ
chia cùng mẹ. Ông khiến ta nghĩ rằng cái người đàn ông ở nhà mới thật sự là
chính ông. Bất cứ khi nào ông đến ở với chúng tôi, ông đều bận rộn với mớ việc
nhà: chăm sóc vườn tược, sửa lại mái nhà, đưa mẹ ra ngoài hàng ăn, kiểm tra bài
tập về nhà, chỉnh lại xe đạp cho tôi.
Cha
mẹ tôi chưa từng nghĩ đến việc rời bỏ thị trấn để tìm lấy một cuộc sống khác
nơi họ có thể là chính họ. Vì ở bên nhau nơi đây, giữa những điều trói buột – chính là cách sống của họ.
Tôi
nghĩ giờ đây, hơn tất cả mọi điều, cha tôi sợ rằng rồi tôi sẽ bỏ rơi ông.
Không hẳn là sợ hãi. Ông chỉ nghĩ về điều
đó và bất giác rùng mình.
Ông tự hỏi liệu có một ngày tôi sẽ nói với ông: Dẫu gì thì chúng ta cũng chẳng cùng một họ,
vậy thôi từ giờ, hãy cứ là vậy. Giữa cha và con chẳng còn quan hệ gì nữa.
Thỉnh thoảng, chẳng vì gì cả, ông lại
chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng hay gửi thức ăn cho tôi. Tôi gọi điện cảm
ơn ông. Có thể thấy rõ sự bồn chồn của ông tỏa ra bên đầu kia điện thoại.
Tôi biết ông đang nghĩ: Chúng ta vẫn còn là cha con chứ hả? Phải
không?
Tôi cảm ơn ông, và nhận lấy số tiền,
nhưng chưa bao giờ tôi nhiều lời giải thích với ông rằng mối quan hệ của chúng
tôi vẫn vậy, vẫn như một gia đình thật thụ, bởi tôi không thấy điều đó là cần
thiết. Mối quan hệ giữa tôi và ông không phải vậy: ông mãi mãi là cha tôi, bất
kể lương tâm có châm chích gợi lên điều băn khoăn gì trong ông, và thậm chí kể
cả khi tôi có thật ruồng bỏ ông.
Không như ông, tôi chẳng chút bận
tâm đến những điều đó.
Tôi sẽ chẳng ngại ngần gì phải dựa dẫm
vào ông nếu thật sự cần thiết, nhưng đồng thời tôi biết rằng nếu mình cho phép ông
chu cấp bất kỳ điều gì quá cụ thể, quá thường xuyên, ai đó ngoài kia với sự
ghen tuông và thèm muốn mà tôi chẳng thể hiểu nỗi sẽ bổ nhào xuống quanh tôi,
háo hức dò xét. Rõ ràng là tất cả những gì họ theo đuổi chỉ nhằm thỏa mãn cái thói
tò mò bệnh hoạn, nhưng cũng thật đau đầu phiền phức nếu phải đối phó với họ.
Thứ trói buộc tôi với quê nhà chỉ là
nỗi đau. Vậy nên càng ít càng tốt.
Tôi biết cha mẹ có quan điểm của
riêng họ, nhưng từ góc nhìn của tôi, họ đã bị cùm chân và xích chặt vào thị trấn
quê nhà.
Cả đời mình, tôi luôn ấp ủ dự định
đào thoát. Tôi tự hỏi sẽ ra sao nếu mình bắt đầu hò hẹn một gã nào đó rồi này nọ
lùm xùm và thật lòng yêu đương, nếu chúng tôi tổ chức một đám cưới hoành tráng
trong khách sạn nào đó của thị trấn – hay thậm chí tồi tệ hơn, nếu tôi mang
thai! – đấy, đó sẽ là kết thúc của tất cả mọi điều. Vậy nên tôi đứng hẳn ra
ngoài trong khi đám bạn cùng trường phấn khích với những mối tình trẻ con của
chúng và mơ tưởng về một đám cưới. Trước khi làm gì, tôi luôn cân nhắc những hậu
quả khả dĩ. Và ngay khi đã tốt nghiệp phổ thông, với lý do theo học một trường
nghệ thuật ở Tokyo, tôi mở ra cho mình lối thoát. Tôi rời bỏ quê nhà.
Cơ thể tôi biết. Nó cảm nhận được sự
kỳ thị quanh tôi, mơ hồ nhưng rất thật.
Đúng
rồi, ả là con gái một nhân vật tiếng tăm, nhưng thôi đi – ông ta phải lòng má
mì một quán bar, đúng không? Ả ta là thứ gái như vậy đấy. Cái cảm giác đó
đè nặng lên tôi, siết chặt lấy mọi thứ bởi tôi biết chỉ ở thị trấn này, không
nơi nào khác, cha tôi là một người quan trọng.
Khi đã đến Tokyo và trở thành sinh
viên một trường mỹ thuật bình thường, như bất kỳ ai khác, tôi thấy nhẹ nhõm và
tự do đến tưởng như mình sẽ trôi đi cùng với mây trời.
Tôi nhớ
mình đã cảm thấy thế nào khi họ hàng bên cha đến viếng mẹ tôi đang nằm trong cỗ
quan tài, bọn họ cố nén sự tò mò, nỗi ngờ hoặc, lòng đố kỵ, để diễn trọn tấn
trò trong bộ tang phục màu đen và váy áo và kimono, tất cả diện lấy vẻ trang
nghiêm giả tạo, nét mặt đượm buồn mà đôi mắt lại háo hức, cắm phặp ánh nhìn vào
bà … Tôi đã muốn lột hết xống áo và nhảy múa trần truồng trước mặt họ, những
mong có thể đập nát cái không khí nhớp nhúa giả tạo đó. Suốt cuộc đời này, tôi
sẽ chẳng bao giờ quên được cái cảm giác đó.
Nhưng những cái nhìn dơ bẩn của đám
người kia đã chẳng thể chạm vào cơ thể mẹ tôi: thân xác bà đã được ngọn lửa cuộn
lấy và thanh tẩy. Tôi không nhận ra rằng việc hỏa tang mẹ lại khiến lòng mình nhẹ
nhõm dường ấy. Tôi biết là họ đã no nê thỏa mãn sự tò mò của mình với trang phục
mà mẹ tôi đang mặc, với vẻ đẹp dung dị của bà, và với việc cha tôi đã công phu
sắp đặt một tang lễ phải nói là hoàng tráng, mà không cân nhắc chút gì chuyện tốn
kém.
Là người chấp sự tang lễ, nên tôi đứng
đọc tế văn, tôi mỉm cười với mọi người, và thường xuyên chấm lệ nơi khóe mắt,
chỉ là diễn; chứ bên trong, tôi thấy bức bối nghẹn long với cảm giác phẫn uất
mà chính tôi cũng không biết phải diễn đạt thế nào.
Cơn giận dữ vừa ngạo nghễ, vừa thuần
khiết, vừa trầm lặng. Nó là thứ cảm xúc mà không ai trong bọn họ, những kẻ phải
gượng ép đời mình thành khuôn mẫu trong khi cuộc đời vốn chẳng có dáng hình, có
thể hiểu được.
Dù vậy, tôi cũng thấy hàm ơn khi bà
hàng xóm trung niên và mấy người bạn của mẹ đến cạnh tôi; tôi đã có những khoảnh
khắc an bình với họ, và chúng tôi cùng nhau uống vài tách trà nóng. Mọi việc
trên đời đều có mặt tốt của nó. Và khi điều tồi tệ xảy ra, cái tốt đẹp lại càng
thêm đẹp đẽ — đáng buồn, nhưng đúng là vậy. Những người phụ nữ đó không cần phải
nói, bởi ánh mắt họ đã nói lên tất cả: Chúng
ta biết, cưng à, chúng ta biết là con đau khổ.
Và rồi … khi nhìn thấy cha đang ôm lấy
cỗ quan tài, khóc than thổn thức, tôi mới biết mình ngu ngốc đến nhường nào.
Cha tôi chẳng chút mảy may bận tâm đến bất kỳ ai ngoài mẹ, trong khi tôi lại thấy
khó chịu bởi những điều hoàn toàn vô nghĩa.
Đứng đó, chứng kiến kết thúc của một
cuộc tình thế kỷ (dẫu chỉ mỗi ba mẹ tôi nghĩ vậy về cuộc tình của họ), tôi chỉ
là một con bé con, run rẩy trước cái chết của người mẹ. Dĩ nhiên, đó có lẽ là
điều duy nhất tôi làm được. Một người chồng thì khác với một đứa con gái.
Gì đi nữa
… xuất hiện trong giấc mơ của tôi đêm qua là người mẹ tinh tế như hoa, không phải
mặt trái ngược của bà.
Là người mẹ tôi thật sự muốn gặp, người
phụ nữ cứ như đang e thẹn liếc nhìn từ sau chiếc ô kết bằng những cánh hoa mỏng
manh lay động.
Bà nói chuyện với tôi. Chúng tôi
đang ở trong phòng bệnh nơi bà đã sống hết những ngày cuối đời mình. Đã rất lâu
rồi bà không ngồi thẳng dậy, thế nên khi nhìn thấy bà làm việc đó trong giấc
mơ, tôi không thể khiến mình thôi hoài nhớ.
Một cơn gió nhẹ len vào ô cửa mở,
khuấy tung ánh mặt trời rạng rỡ trong không khí, và mẹ tôi, trong bộ pi-gia-ma
màu hồng, trông giống hệt cô nữ sinh đang đi một chuyến dã ngoại qua đêm. Bao bọc
quanh bà là một màn sương ảo diệu. Mấy bông hoa khách đến thăm gửi lại trông
như sắp tan rũ trong vầng sáng của bà.
Mẹ tỏa sáng rực rỡ đến độ khó lòng
nhìn thẳng vào bà, thế nên tôi đặt ánh mắt lên màn bụi bám dày trên bậu cửa sổ.
Mẹ nói với tôi.
“Chihiro, con biết không, con yêu —
tất cả chỉ cần một bước sẩy chân và con chỉ còn biết tuyệt vọng đến cuối cuộc đời,
giống như ta. Nếu con luôn giận dữ, la mắng mọi người, cuối cùng thì điều đó chỉ
có nghĩa là con phụ thuộc vào họ.”
Con biết, con nghĩ là con biết. Mẹ không
phải loại người hay cằn nhằn người khác, xum xoe khách quen để giữ mối làm ăn,
hay cáu kỉnh với cha qua điện thoại khi ông quá bận rộn không thể đến thăm
chúng ta; mẹ không phải loại người sẽ có lúc nào đó càu nhàu, Em có quyền gì mà phàn nàn chứ? Dù sao đi nữa,
em cũng chỉ là người tình chứ có phải vợ anh đâu. Mẹ không tỏ vẻ gì mệt mỏi
… sự thật là, mẹ à, mẹ chẳng phải một bông hoa dại mọc trên đồng cỏ như mọi người
vẫn nói, mà là một con người cực kỳ yếu mềm, tinh tế, và nếu có thể so sánh, mẹ
như một đóa hoa dịu dàng khoe cánh trên một ngọn đồi đâu đó, nơi cao chót vót đến
độ không ai đến được, không một ai ngoại trừ lũ chim và bầy nai … Con biết, con
nghĩ là con biết.
Cha cũng biết vậy. Ông hiểu điều đó,
đã cố hết sức để hiểu, và che chở cho mẹ.
Bởi lúc buông lỏng mình bên cha, mẹ
luôn trông như một cô bé. Cả mẹ và cha, hai người đều trông như trẻ nhỏ. Chỉ là
cái xã hội này, cái thế giới này, không cho phép mẹ làm vậy.
Con
đoán mẹ chỉ thiếu can đảm, thiếu gan góc để tự mình tranh đấu. Thế nên khi tất
cả đã kết thúc, mẹ vẫn vậy, sống hết cuộc đời chẳng có gì hơn là một sự thay thế
tạm bợ cho cuộc đời mẹ thật sự mong muốn.
Đó chỉ là những ý nghĩ bất chợt nảy ra
trong tôi, nhưng dĩ nhiên trong giấc mơ không cần tôi nói ra thì mẹ vẫn hiểu. Bà
gật đầu. Rồi nói tiếp.
“Mẹ đã không muốn sống như vậy. Cũng
như mẹ chưa bao giờ thích trang điểm. Mẹ ghét cái ý nghĩ phải làm phẫu thuật thẩm
mỹ để trông trẻ hơn, mẹ sợ phẫu thuật, và mẹ kinh hãi khi nhìn thấy những con
người nơi đó, trong viện thẩm mỹ, những người muốn trở nên xinh đẹp. Bằng cách
này hay cách khác, mẹ luôn đau đớn, luôn sợ hãi. Nhưng khi người ta bảo mẹ nên
làm điều gì đó, mẹ bắt đầu nghĩ có lẽ mình phải làm, và rồi mẹ làm — đơn giản
là vậy. Và khi đã làm xong, thì việc đã rồi, và mẹ phải che giấu nỗi sợ hãi của
chính mình, thế nên mẹ biến tất cả thành một trò cười, cho dù tận sâu bên
trong, lòng mẹ nhói đau.
“Dĩ nhiên mẹ không muốn cứ bám chặt
lấy cha con mãi. Nhưng mẹ cứ lo sợ rằng ông có thể sẽ rời xa mẹ, thế nên mẹ bấu
víu vào ông chặt hết mức có thể. Mẹ biết ngoài việc tức giận, vẫn có cách khác
để bộc lộ cảm xúc của mình, nhưng cơn giận cứ tự đến. Bằng cách nào đó, cuối
cùng mẹ lại đi con đường này, thay vì những con đường khác, và rõ ràng không có
chỗ quay lại trên con đường mẹ đã đi. Sự lo âu chỉ càng làm mẹ thêm âu lo, và
việc giả vờ lại cho kết quả tốt hơn, thế nên nó là vậy. Mẹ không thể dừng lại.
Cuối cùng, mẹ chết trước khi kịp thay đổi điều gì.
“Nhưng con biết không, Chihiro, từ
chỗ mẹ đang ở bây giờ mẹ có thể xem xét lại tất cả, và thấu hiểu nhiều hơn, mẹ
hiểu ra rất nhiều. Bây giờ mẹ thấy rất rõ nhiều điều đã xảy ra — không phải là
mẹ hối tiếc gì đâu, không phải vậy — nhưng thật sự mẹ đã không cần phải lo lắng
nhiều đến thế,” mẹ tôi nói. “Con hiểu điều mẹ nói không?”
Từ
chỗ mẹ đang ở bây giờ … Có phải là thiên đường? Vậy có thiên đường thật ư?
Tôi nghĩ.
Mẹ tôi cười lơ đãng. Rồi bà nói tiếp.
“Mẹ thật vô dụng, đã sợ hãi quá nhiều
điều đến nỗi cuối cùng không thể bảo vệ chính mình bằng cách nào khác. Con đừng
giống như mẹ, được chứ? Nhớ giữ ấm bụng, thả lỏng ra, cả cơ thể và tâm trí con,
cố đừng để hoang mang. Hãy sống như một bông hoa. Con có quyền đó. Nó là điều
con chắc chắn có thể đạt được trong cuộc đời con. Và chỉ thế là đủ.”
Mẹ cười rạng rỡ, và bất thình lình
tôi nhớ lại hồi còn nhỏ mình thường hất chăn ra khỏi bụng thế nào khi ngủ, và
khi mẹ bước vào kiểm tra bà thường bảo tôi phải giữ ấm bụng mình. Thậm chí
trong giấc mơ, mắt tôi vẫn ngấn lệ.
Suốt cả thời thơ ấu, bất cứ khi nào
tôi run rẩy mở mắt trong đêm, mẹ luôn ở đó, vỗ nhẹ vào cái bụng trần của tôi,
chỉnh lại áo ngủ, kéo chăn đắp lại cho tôi. Đã bao nhiêu lần tôi thấy bà làm vậy?
Được
yêu có nghĩa là vậy … khi ai đó muốn chạm vào bạn, muốn chăm sóc bạn … Thậm
chí tận bây giờ, cơ thể tôi vẫn còn nhớ cảm giác đó. Nó học được cách không phản
ứng lại với mọi thứ tình yêu giả tạo. Tôi nghĩ có thể nói là mình đã được nuôi
dạy tử tế.
Mẹ,
con muốn gặp lại mẹ một lần nữa, tôi cầu nguyện. Con muốn được chạm vào mẹ. Ngửi mùi hương của mẹ.
Thậm chí, tôi còn nhớ đến cái quán của mẹ, với vẻ
cáu bẩn thường nhật trong ánh ngày, khi giờ đây tôi biết rằng nó đã biến mất.
Có thể nó không phải là nơi đẹp đẽ
nhất, nhưng từ đó là nơi tôi đã đến. Nơi ấy còn lưu giữ mùi hương của mẹ. Sau tất
cả mọi chuyện, tôi hiểu là nó đã an ủi tôi cũng nhiều như việc khiến tôi thấy ngột
ngạt. Tôi vẫn chỉ là đứa trẻ, vẫn cần có cha mẹ, và rồi bỗng dưng, tôi thấy
mình bước đi cô độc.
Trong cơn mơ, tôi thấy buồn hơn cả nỗi
buồn và yếu đuối đến độ suýt bị nó đè nát.
Má tôi đẫm
lệ khi tỉnh giấc.
Giật mình tỉnh dậy, tôi thoáng nhìn sang
Nakajima đang nằm cạnh tôi trên nệm futon
của cậu, vẫn còn ngái ngủ. Bàn tay thò ra ngoài lớp chăn, đặt trên chiếu tatami, trông có vẻ buốt lạnh. Tôi kéo
khăn choàng, đắp lên cho cậu.
Giờ khi đã quay lại hiện thực, giấc mơ ấy chẳng có
vẻ buồn phiền gì nữa. Cảm giác về sự hiện diện của mẹ vẫn tỏa ra ấm áp trong lồng
ngực, dù rằng tôi chẳng thấy yêu mến hơn chút nào cái thị trấn nơi mình đã lớn.
Sao vậy, bỗng dưng tôi như nhỏ lại làm
đứa bé con? Có lẽ, đâu đó sâu thẳm bên trong, dù ít ỏi, vẫn có một tôi đang cố
níu lấy quá khứ …
Dù gì, tôi cũng đã ở đây đủ lâu để thấu rõ cảm xúc của mình.
Điều duy nhất con thấy nhớ
là căn hộ, mà giờ nó chẳng còn là của chúng ta nữa. Đôi lúc con ước mình có thể
quay về sống nơi đó, và trở lại làm một đứa trẻ …
Tôi hồi nhớ lại.
Cái không khí vui vẻ những buổi sáng Chúa nhật —
âm thanh từ chương trình truyền hình cũng vui vẻ rộn rã hơn so với bây giờ chảy
vào trong phòng khi cha đang thư thả ngồi xem ti-vi, đợi xem sẽ có gì cho bữa
sáng muộn, trong khi mẹ đang trong bếp thử nghiệm mớ hỗn tạp những nguyên liệu
ngoại nhập, cố nấu một món đặc sản truyền thống nào đó … Cả hai vẫn còn choáng
nhẹ sau bữa rượu hồi đêm, và giờ nghĩ lại tôi thấy quanh họ tỏa ra một bầu
không khí uể oải dịu ngọt sau một đêm ân ái. Cái vẻ uể oải khiến họ trông có vẻ
dịu dàng, ngái ngủ. Khi còn là một đứa trẻ, tôi thường nằm trên giường, háo hức
nhìn ra ngoài cái thế giới đó như bị mê hoặc.
Con
cũng chẳng ngại quay về quê nhà nếu vẫn còn những ngày xưa ấy.
Và rồi, một lần nữa, tôi giật nảy
mình nhận ra Nakajima đang nằm cạnh bên mình. Lạ thật. Cậu ta làm gì ở đây? Nếu
là một giấc mơ, xin đừng đánh thức tôi dậy.
Phải, tôi nhớ ra rồi. Cậu ta quyết định
ngủ lại đêm qua.
Trí nhớ tôi chậm chạp quay về.
Tôi nhận ra, dù thật tình không muốn,
mình đang hồi tưởng lại cuộc làm tình nghiêm túc nhất mà chúng tôi đã dạo qua
trước khi chìm vào giấc ngủ, và cảm thấy chút bối rối. Giờ chúng tôi đang mặc
pi-gia-ma, nằm trên hai chiếc nệm futon
riêng biệt, như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Cứ như là chúng tôi đã sống bên
nhau cả đời, và rồi sự hiện diện của Nakajima vẫn khiến tôi sững sốt. Tôi cảm
thấy có gì đó hoang mang, gì đó bình lặng, có gì đó ngây ngất, choáng váng. Có
lẽ vì vậy mà tôi đã mơ thấy mẹ.
Không mấy khi tôi phí thời gian với
một anh chàng bất thường đến vậy.
Chẳng hiểu sao nhưng tôi biết chắc là
Nakajima sẽ không muốn ở chung phòng quá lâu với bất kỳ ai. Tôi từng thấy cậu
ta trong căn hộ của cậu với một người phụ nữ mà tôi nghĩ là bạn gái cậu, nhưng
tôi không cảm thấy là họ luôn ở bên nhau.
Đêm qua, Nakajima đã khóc mà bảo tôi
rằng cậu ta sợ nếu để vuột mất cơ hội này, suốt cuộc đời cậu sẽ không bao giờ
có thể làm tình với ai khác nữa. Thôi đi, tôi bảo, cậu nói quá đấy. Nhưng lúc
đó, nghĩ đến điều khiến cậu phải thổ lộ một việc như thế, tôi bắt đầu thấy xót
xa cho cậu, và thấy buồn chính mình. Lòng tôi buồn rũ rượi.
Rồi chuyện gì đã xảy ra? Chúng tôi
đã làm chuyện đó? Hay là không?
Chúng tôi chẳng say xỉn gì, vậy mà chuyện
đêm qua sao quá đỗi mơ hồ tôi không nhớ rõ. Sao cũng được, tôi nghĩ, quan tâm
làm gì. Cậu ta vẫn còn đây.
Cảm giác về sự hiện diện của mẹ lại
thoảng qua trong tâm trí tôi.
Một giấc mơ buồn, tôi nghĩ. Nhưng thật
đẹp.
Mẹ tôi đã thật sự ở đây — người mẹ
tôi muốn gặp, nhưng ít khi nào thấy được.
Bà luôn nói những điều bà nghĩ, bà
có thể cười đùa mọi chuyện, bà kiêu hãnh, và bà khiến bạn thấy như bạn có thể dựa
dẫm vào bà nhiều như bạn muốn, bà không thấy phiền gì, vậy nên dần dà tôi thậm
chí bắt đầu quên mất tính cách thật của bà, thứ được giấu phía sau vẻ ngoài đó.
Nhưng khi tôi còn bé — có những dịp
hiếm hoi nào đó khi bà mỉm cười nhìn tôi với một sự dịu dàng đặc biệt hư ảo,
hay khi bà dùng chân sưởi ấm chân tôi dưới lớp nệm futon chúng tôi đang đắp, hay khi chúng tôi hồ hởi dạo bước ra
ngoài một buổi sáng sau cơn mưa tuyết, in lại một chuỗi dấu chân trên nền tuyết
mới rơi … những lúc đó, con người thật của bà lại hiện hữu, bà như một cô gái
nhỏ, và có vẻ như bà sẽ mãi mãi là như vậy.
Tôi bâng quơ liếc nhìn ngực Nakajima
khi hồi nhớ lại, dõi nhìn những ký ức ngày xưa trỗi dậy rồi biến mất, từng chút
một tôi bắt đầu thấy bình tĩnh hơn, như thể đang bị thôi miên.
Nakajima. Nakajima …
Nakajima trông ngồ ngộ.
Hai khe mũi phập phồng, cái cổ tay khẳng khiu với
những ngón tay dài, cái miệng há hốc trong lúc ngủ, cái cổ mảnh khảnh đến đáng
thương, cặp má phúng phính trẻ con, và mái tóc mượt mà che phủ đôi mắt, khiến
đôi mắt ti hí, với hàng lông mi dài, trông như đang cố lẩn trốn … Tôi yêu chúng,
tất cả mọi điều về cậu. Tôi bỗng nghĩ nếu đến một lúc, trong tương lai xa, khi
Nakajima trút hơi thở cuối cùng và trôi về trời cao đến chỗ của cậu giữa những
vì sao (tôi biết mấy hình tượng này thật cũ rích, nhưng chúng dường như hoàn
toàn vận đúng vào cậu – thật sự, hình ảnh cậu hóa thành một ngôi sao thật quá
thích hợp, khi nghĩ mối liên kết giữa cậu với cuộc đời này yếu ớt đến dường
nào), linh hồn tôi sẽ ở đó với cậu. Cảm giác tôi dành cho cậu không hẳn là tình
yêu, mà gần hơn với điều gì đó như kinh ngạc, hay thậm chí sững sốt. Và vì vậy
tôi chỉ có thể tiếp tục dõi nhìn theo cậu, không thể gắn kết hoàn toàn.
Cậu ta vẫn còn đây hôm nay,
tôi nghĩ. Cậu ta vẫn chưa biến mất. Và cảm giác của tôi về cậu vẫn còn nguyên vẹn!
Mỗi ngày luôn là một ngày mới mẻ, khi giờ đây tôi
đã gắn bó chẳng thể rời xa Nakajima, cậu trai trẻ đầy hoang mang này. Ngay từ
lúc bắt đầu quen nhau, tôi đã ít nhiều khó chịu. Suốt mấy năm trời tôi chỉ nghĩ
đến mỗi mình mình, vùng vẫy cố tìm một lối thoát, ép mình không ngừng tiến về
phía trước, mắt chăm chăm nhìn về cái tương lai mong muốn — tôi tập trung chỉ
vào mỗi việc tạo một khoảng cách xa hết mức có thể giữa tôi và quê nhà, kiên định
chối bỏ ý định bám rễ nơi ấy. Nhưng Nakajima đã cuộn lấy tôi quá mãnh liệt, và
giờ đây lôi tôi theo ngay sau cậu.
Nơi đây, thời gian không tồn tại.
Chúng tôi cắt rời chính mình ra khỏi phần còn lại của thế giới. Chỉ cần ở bên
Nakajima, tôi thấy như chúng tôi đã trôi khỏi dòng lịch sử, và không tồn tại
trong một thời đại cụ thể nào.
Thậm chí đôi lúc tôi tự hỏi liệu điều tôi đang cảm
thấy có phải là hạnh phúc.
Thời gian ngưng đọng, tôi dõi nhìn
Nakajima, và đó là tất cả những gì tôi muốn.
Ừ, tôi cảm nhận được, đây chắc hẳn
cái gọi là hạnh phúc.
Đời tôi là một chuỗi ngày hoàn toàn
bình thường. À, có lẽ không — tôi đoán ở cái thị trấn khỉ ho cò gáy đó, nơi hầu
như mọi chuyện đều trở thành đề tài tán gẫu, là một đứa con ngoài giá thú cũng
đủ khiến đời tôi trở thành bất thường. Nhưng tôi không có gì bất thường cả về
bình diện nhân cách.
Vậy nên tôi không thể phủ nhận rằng
Nakajima — một gã khá kỳ quái — đôi lúc quá sức chịu đựng của tôi, và trong mối
quan hệ với cậu ta, một phần trong tôi luôn sẵn sàng bỏ chạy.
Tất cả những gì tôi biết về quá khứ
của cậu là cậu đã trải qua những điều khủng khiếp. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ
tâm sự sâu hơn về những việc đã xảy ra.
Nakajima yêu mẹ mình, nhưng cậu bảo
rằng bà đã mất, và bất cứ khi nào nói về bà, cậu ta lại khóc. Do vậy dù không
biết rõ chi tiết, tôi cũng có thể thấy cậu đã được nuôi nấng theo cách khiến cậu
yêu mẹ mình, công khai và thành thực, đến vậy; ít nhất, trái tim cậu đã đặt vào
đúng chỗ của nó.
Và tôi có thể hiểu rằng mãi mãi
không một ai khác trên đời có thể yêu cậu theo cách mà mẹ cậu đã yêu cậu.
Tôi không chắc mình đủ mạnh mẽ để đương
đầu với những chuyện quá kinh khủng, nhưng không hiểu sao việc nhận thức được
điều đó lại khiến tôi thấy dễ dàng hơn khi ở bên cậu.
Tôi
không nhớ phải mất bao lâu Nakajima mới bắt đầu nghỉ lại nhà tôi. Chí ít cũng
phải một năm.
Thời gian cứ trôi và đến một lúc, dẫu cả hai cũng
thẳng thấy gì đặc biệt hứng khởi cả, cậu ta bắt đầu ghé qua căn hộ của tôi vào
những buổi chiều.
Cậu đến bất cứ khi nào tôi có nhà, và rồi đêm muộn,
khi cảm thấy đã đến lúc, cậu sẽ ra về. Chuyện hẳn đã tiếp diễn như vậy suốt ba
tháng trời, những chuyến viếng thăm thường nhật nối tiếp nhau, dẫu rằng tôi
cũng không chắc lắm.
Không giống như chúng tôi đang sống chung nhà. Giống
như bạn cùng phòng thì đúng hơn. Hai căn phòng riêng rẻ, chỉ tình cờ là chúng
cách nhau xa hơn bình thường một chút. Sự hiện diện của Nakajima cũng không hề
khiến tôi thấy e ngại. Trái lại là khác: tận sâu bên trong tôi thấy lòng mình ấm
áp mỗi khi có cậu kề bên. Cảm giác đó vẫn luôn là vậy.
Khi tất cả những chuyện này bắt đầu, tôi đang sống
trong căn hộ của riêng mình, và Nakajima ở tầng hai căn chung cư nằm chéo góc
bên đường.
Tôi có thói quen đứng bên cửa sổ trông ra ngoài,
và Nakajima cũng vậy, thế nên chúng tôi để ý đến nhau, và chẳng bao lâu thì bắt
đầu gật đầu chào nhau. Tôi nghĩ ở cái thành phố bộn bề như Tokyo này chắc hiếm
khi lại có hai người ở hai ô cửa gật đầu chào khi nhìn thấy nhau, nhưng ở quê
tôi, cái chốn xa xôi hẻo lánh ấy, việc đó lại là điều tự nhiên nhất trên đời,
còn Nakajima thì vốn chẳng phải loại người sẽ bận tâm những chuyện như vậy. Cậu
sống với những nguyên tắc riêng nằm ngoài tất cả những điều nhỏ nhặt đó. Giữ lấy
chúng với ý chí của một kẻ không sợ chết đang ở bước đường cùng.
Có lẽ vì vậy mà tôi biết chúng tôi có thể ở bên
nhau.
Điều đó và cái dáng cao lêu nghêu của cậu tựa lên
ô cửa, và thực tế đó quả là một bức tranh hoàn mỹ. Đôi lúc câu đu đưa cánh tay
khẳng khiu của mình trên ngưỡng cửa, và trông cậu thật tuyệt khi làm vậy, rất
giống một con khỉ hoang.
Thời gian trôi, tôi bắt đầu có thói quen mở cửa sổ
vào buổi sáng khi thức dậy và liếc nhìn qua phòng Nakajima. Tôi chẳng bận tâm
chuyện trang phục mình đang mặc, đầu tóc mình trông thế nào hay bất kỳ điều gì
khác – không quan trọng. Tôi cảm thấy gần gũi, và đã xem cậu như một phần trong
khung cảnh thường nhật. Chẳng hiểu sao nhưng tôi tự nhủ với mình rằng con đường
chúng tôi đi sẽ chẳng bao giờ thật sự giao nhau.
Thậm chí nếu không nhìn thấy Nakajima, tôi cũng sẽ
thấy chỗ quần áo được phơi phóng kỹ lưỡng (cậu ta phơi chúng gọn gẽ đến độ
trông gần như một tác phẩm nghệ thuật. Tôi cá là cậu có thể mặc chỗ quần áo ấy
thẳng thớm mà chẳng cần phải là ủi chúng làm gì. So với cậu, tôi khá cẩu thả đến
độ chỉ túm lấy mớ quần áo của mình và ném tung chúng ra ngoài hàng hiên), và
khá thường xuyên tôi bắt gặp một người phụ nữ, rõ ràng là lớn tuổi hơn
Nakajima, quanh quẩn gần cửa sổ, và tôi nghĩ À, bạn gái cậu ta ngủ lại nhà đây.
Cậu ta sướng rồi.
Rồi từng chút một, mỗi bước một lần, chúng tôi
càng gần nhau hơn.
Tôi luôn thích đứng bên cửa sổ, dẫu cho trời có
giá lạnh thế nào, thế nên thậm chí cả vào mùa đông, cậu và tôi vẫn luôn vẫy
chào nhau.
“Hôm nay cậu thế nào?” Tôi hỏi.
“Tớ ổn!” Tôi không thể nghe, nhưng có thể đọc được
môi cậu nói.
Và cậu sẽ mỉm cười.
Cứ như thể việc chọn sống tại nơi này đã đặc biệt
nối chặt chúng tôi vào sợi dây số mệnh, khiến chúng tôi cảm thấy những điều mà
hẳn người khác sẽ không hiểu được. Ngày qua ngày, ánh mắt chúng tôi vẫn luôn
nhìn qua ô cửa nhà nhau, và cảm giác đó như là hai đứa đang sống chung nhà. Khi
đèn phòng Nakajima phụt tắt, tôi cũng bắt đầu nghĩ có lẽ đã đến lúc mình phải
lên giường ngủ thôi, và cứ mỗi khi tôi từ quê quay trở lại và mở cửa sổ phòng
mình, Nakajima sẽ rướn người ra ngoài ô cửa phòng cậu và thét to, “Chào mừng trở
về!”
Không ai trong hai chúng tôi hiểu rõ điều gì đang
diễn ra. Đơn giản chỉ là để mắt đến nhau, cái nhìn vô tư không vẩn vơ suy tính,
là để ý đến âm thanh một ô cửa nào trượt mở, thế rồi chúng tôi đã bắt đầu phải
lòng nhau.
Trong khoảng thời gian dài dằng dặc cùng mẹ đi hết
quãng cuối cuộc đời bà, cứ mãi tới lui lui tới giữa căn hộ và thị trấn quê nhà,
dần dà tôi lại thấy ít nhiều an ủi nơi ánh đèn hắt ra ngoài ô cửa phòng
Nakajima mỗi khi trở lại căn hộ của mình. Suốt những tháng ngày đau khổ đó, nguồn
sáng ấy là tất cả hạnh phúc mà tôi có được.
Ở nơi ấy bên cha và mẹ đang hấp hối,
đó quả thực là khoảng thời gian với rất nhiều ký ức ấm áp, nhưng ngay khoảnh khắc
từ sân ga tăm tối bước lên con tàu sẽ đưa tôi về lại căn hộ của mình, tôi thấy
sao cô độc. Tôi, đứa con duy nhất của mẹ, cô độc.
Tôi phải tự mình đi hết đoạn đường này.
Khi đứng đó trên sân ga, hiện thực
cay đắng về cái chết đang đón đợi đan lồng vào những ký ức về mẹ, cùng với bầu
không khí buồn tẻ lẩn quất giữa đám đông đang lê bước quanh tôi trong hành
trình thường nhật của cuộc đời họ - tất cả hòa lẫn vào nhau, và tôi thấy mình lạc
lối. Chẳng biết rõ mình thuộc về nơi đâu, đã trưởng thành hay vẫn chỉ là trẻ nhỏ,
quê nhà là nơi đâu, gốc rễ tôi nơi đâu. Ngần ấy câu hỏi tràn ngập trong đầu.
Trí não tôi tê dại đến độ chẳng thể
nghĩ được, Sao mày không yêu Nakajima cho
rồi? Để cậu ta an ủi mày nhiều hơn. Coi nào, ngã vào vòng tay cậu ta đi! Chẳng
tuyệt lắm sao được ngắm nhìn thật gần cái dáng hình vẫn in trên ô cửa ấy? Không,
chẳng bao giờ tôi nghĩ đến điều ấy.
Vậy rồi cậu vẫn có mặt, đúng nơi đúng
chỗ, đúng khi tôi cần đến cậu. Nghĩ lại, chuyện tôi và cậu hẳn sẽ chẳng đến đâu
nếu cậu đã gần gũi tôi hơn một chút, hay cách xa tôi hơn một chút.
Ô cửa hai nhà cách nhau khá xa, với
một con đường chen ngang ở giữa, nhưng tôi hoàn toàn chẳng thấy có chút gì khoảng
cách. Không hiểu sao, có điều gì kết nối chúng tôi lại. Vì giữa mớ thanh âm ồn ã
của người và xe trên đường, thật chẳng dễ gì để chúng tôi nghe thấy nhau, nhưng
lạ kỳ là tôi chẳng mấy khó khăn để hiểu được điều cậu đang nói. Gương mặt cậu nhợt
nhạt thoáng qua trong bóng tối mù mờ, một nụ cười vô tự lự trên môi, chừng đó thôi
cũng đủ tôi thấy ngàn lần nhẹ nhõm.
Khi mẹ
đã mất, tôi chẳng định sẽ kể gì cho Nakajima.
Cậu và tôi đôi lúc vẫn cùng đi uống
gì đó khi gặp nhau trên phố, và đó là điều đã xảy ra khi rốt cuộc tôi cũng trở
lại sau tang lễ. Vắng nhà cũng đã ba tuần, vậy nên tôi dọn dẹp lại căn hộ rồi
ra ngoài mua sắm ít đồ dùng; và vô tình gặp Nakajima trên phố. Chúng tôi vào
quán Starbucks, tìm chỗ cạnh quầy gần cửa sổ, và ngồi xuống với thức uống của mình.
Không khí huyên náo trong quán, mùi
café, và giọng nói của ngần ấy con người trẻ trung đầy sức sống khiến tôi thấy choáng
váng đôi chút, bởi lẽ cũng đã khá lâu rồi tôi rời xa khỏi những điều này. Tôi
chợt nghĩ nếu thành hồn ma, bầu không khí này sẽ là điều tôi nhớ nhất: sự hối hả
bình thường của đời sống thường nhật. Những hồn ma luôn mong nhớ những điều tầm
thường và ngớ ngẩn nhất, tôi khá chắc về chuyện này.
“Tớ sẽ chẳng về quê mấy dịp cuối tuần
nữa,” tôi nói. “Gia đình chẳng còn lại mấy ai ở quê nhà, nên giờ thỉnh thoảng tớ
mới phải về thăm.”
Nakajima nhấp một hớp café, nhăn mặt
vì nóng.
“Mẹ cậu mất rồi sao?” cậu nói.
Tôi sững sốt. “Sao cậu biết?”
“Thì gần đây cậu cứ về quê suốt,
chà, thật tình là tớ …”
Câu trả lời của cậu chả giải thích
được gì cả. Tôi đoán hẳn cái vẻ trống rỗng của tôi đã nói cho cậu biết.
Nakajima khá nhạy cảm với những điều này. Bóng dáng tôi phản chiếu qua ô cửa trông
nhỏ bé hơn bình thường. Nhìn tôi có vẻ héo hon, ủ rũ quá. Có lẽ nếu bạn biết
nhìn những gì cần nhìn, bạn cũng có thể trông thoáng qua và biết rằng tôi vừa
thành một đứa mồ côi.
“Vậy tớ sẽ không còn cô đơn mấy dịp
cuối tuần nữa. Biết là không nên nói thế, tớ biết, nhưng thật lòng tớ vui lắm.
Ý tớ là vắng cậu thì buồn chán làm sao, tuần rồi, cả tuần trước nữa, khi ô cửa
phòng cậu tối đèn. Ô cửa phòng cậu là tuyệt nhất đấy, cậu biết chứ? Không ai
hơn được đâu. Nó không quá rực rỡ, cũng chẳng quá mù mờ như những ô cửa khác –
ô cửa phòng cậu cứ dịu dàng tỏa ra một thứ ánh sáng tĩnh lặng.
“Thật sao?”
Tôi không chắc là tôi thích việc ai
đó bảo rằng thật tốt là mẹ mình đã mất, nhưng suốt mấy tuần qua đã phải chịu đựng
biết bao lời thành kín phân ưu đầy hình thức, thế nên trước sự thành thật của
Nakajima tôi lại thấy xúc động.
“Nói thật đấy. Khi phòng cậu tối
đèn, Chihiro à, tớ cảm thấy cô độc đến khó lòng chịu được.”
Bất cứ khi nào Nakajima gọi tên tôi,
lần nào cũng vậy, cái tên ấy lại lấp lánh như là châu báu. Tôi chẳng biết tại
sao. Chà - cậu thấy nó lóe sáng thế nào
chứ? Gọi tên tớ nữa đi, làm ơn!
Nhưng làm sao nói thẳng điều đó với
cậu được, thế nên tôi chỉ biết lập lại giọng cậu gọi tên tôi, trong tâm trí. Có
điều gì trong giọng nói của cậu khiến tôi, lần đầu tiên, cảm thấy một sự rung động
gợi tình khi ở cạnh cậu; nhưng đó không phải là tất cả - và không hiểu sao,
chính điều đó lại khiến tôi thấy tự hào.
“Vậy, tớ quay về đây là việc tốt đấy
nhỉ?”
Không thể ngăn nước mắt tuôn rơi khi
nói ra điều đó; tôi khóc khẽ khàng.
“Tớ biết, đau lòng lắm khi mất mẹ,”
Nakajima nói. “Tớ cũng từng đau khổ như thế.”
Không biết gì nhiều về quá khứ của cậu,
tôi đơn giản nghĩ rằng:
Vậy
ra cậu ấy cũng không còn mẹ.
“Ừ.” Tôi khịt mũi. “Nhưng đoạn đường
này chúng ta ai cũng phải bước qua, đúng không?”
Tôi bóp chặt tách trà chai bự chảng giữa lòng bàn tay như thể
đang ôm lấy nó vào lòng, bấu víu vào nó. Rồi, một khắc tiếp theo, tất cả mọi
chuyện tôi đã phải đối mặt trong khoảng thời gian ngắn vừa qua, và cả nỗi sợ rằng
mình sẽ chẳng còn một ngôi nhà hay một gia đình thật sự để quay về - tất cả đều
tan biến, dẫu chỉ đôi chút, và tôi thấy lòng mình thanh thản.
Khoảng
hai tuần sau, Nakajima bắt đầu ghé nhà tôi. Cũng chẳng có gì đặc biệt, chỉ là cậu
ta ghé qua. Phút trước, còn thấy bên ô cửa phòng cậu, mà phút sau đã thấy cậu đứng
bên ô cửa phòng tôi. Thế nên, tôi thậm chí chả nghĩ tới mối quan hệ giữa chúng
tôi có gì thay đổi.
Trước đó, như mọi khi, chỉ tình cở gặp
nhau trên phố, và cậu hỏi:
“Chihiro này, cậu có bạn trai chưa?”
“Giờ thì không,” tôi nói. “Lúc trước
cũng quen một anh chàng biên tập viên, bận rộn suốt chỉ rảnh mỗi cuối tuần,
nhưng sau khi bắt đầu chăm sóc mẹ thì lại chẳng có mấy thời gian bên nhau, vậy
nên anh ta đá tớ rồi.”
“À. Chắc thằng chả không thích cậu
quan tâm mẹ nhiều quá.”
Cái từ “thằng chả” làm tôi cười toe
toét.
Bất kể việc gì cậu làm cũng đáng yêu
cả. Trong cậu, tôi luôn thấy phần tốt đẹp nhất. Chúng tôi đã dành thời gian để quay
nhìn về phía nhau, từ hai ô cửa, góp nhặt từng khoảng khắc có được, cho đến
lúc, tận sâu trong tim mỗi đứa, có điều gì chợt hé mở. Dù rằng ngoài mặt vẫn
như không.
“Ờ, chắc vậy,” tôi đáp. “Để tâm mấy
chuyện ấy cũng khó. Cố dành ra thời gian để gặp anh ta khiến tớ thấy mọi việc
càng thêm nặng nề. Chia tay rồi cũng thấy nhẹ lòng hơn. Bởi hơn mọi thứ, tớ thật
sự cần thời gian cho riêng mình – mỗi một mình và những giấc ngủ thật sâu.”
“Tớ hiểu điều đó…” Nakajima gật đầu.
Cậu có thói quen thoáng cau mày mỗi
khi gật đầu.
Rồi đêm hôm đó, cậu bắt đầu ghé căn
hộ tôi chơi.
Chúng tôi bắt đầu khoảng thời gian
bên nhau: dùng bữa tối, ăn yakiniku ở
một quán bar gần đây (cả hai đứa, đặc biệt là Nakajima, đều không thích ăn tiệm,
và chúng tôi chẳng bao giờ nhậu nhẹt bên ngoài), thay phiên nhau đi tắm và nốc
bia sau khi tắm xong, rồi ngồi im lặng bên nhau.
Cũng lạ, chẳng hiểu sao căn hộ của
tôi có vẻ tươi sáng hơn khi có mặt Nakajima. Lần đầu tiên trong đời, tôi cảm thấy
mình có một người bạn thật sự, và rằng mình không cô độc.
Đã có
lúc, tôi cho rằng Nakajima bị đồng tính, và người phụ nữ đôi lúc vẫn đến ở cùng
cậu chỉ là một người bạn, và rằng cậu chàng có cách riêng để giải quyết những
ham muốn nào đó của mình tại một nơi đâu đó trong thành phố.
Tôi có cảm giác cậu không mấy hứng thú chuyện tình
dục, và nhìn cơ thể gầy gò đó, thường cậu chẳng ăn gì mấy, dẫu có bữa ngốn nhiều
đến kinh ngạc, nói chung trông cậu không có vẻ mạnh mẽ cho lắm. Dĩ nhiên, cũng
có một người phụ nữ ghé nhà cậu, nhưng trông hai người chẳng có vẻ gì chuyện ấy
cả, và tôi đoán trong những đêm hiếm hoi đi ra ngoài, cậu đến nơi dành cho những
anh chàng như cậu tụ họp trong thành phố.
Hay cũng có thể vì sĩ diện mà tôi nghĩ thế. Bởi dường
như với tôi, cậu hoàn toàn không có hứng thú gì. Đại loại là tôi có thể thay đồ
ngay trước mặt cậu và cậu thậm chí chẳng thèm tỏ ra bối rối.
Rồi đêm qua, Nakajima thật sự chẳng muốn về nhà
chút nào.
Cậu chàng cứ chần chừ, viện đủ mọi lý do đến độ
tôi phải hỏi đùa.
“Sao vậy, bồ cũ ghé qua? Hay giang hồ đến nhà đòi
nợ?”
“Chỉ là lại nhớ đến những chuyện tồi tệ đã xảy ra
cũng ngày này nhiều năm trước – nghĩ đến chúng tớ thật sự thấy bất an,” Nakajima
nói. “Trí nhớ của tớ, cả tinh thần lẫn thể xác, chính xác đến lạ kỳ, và tớ chẳng
thể chịu được mỗi khi những ngày tồi tệ ấy quay về. Xin lỗi, nhưng lúc này tớ
chưa thể kể cậu biết chuyện gì đã xảy ra. Nhớ đến chi tiết thì tớ lại càng căng
thẳng hơn thôi.”
Tôi những muốn bảo thẳng rằng cậu
quá ích kỷ, nói gì thì đây cũng là nhà tôi và cậu chỉ là khách trọ. Nhưng
Nakajima trông có vẻ tổn thương thật sự, và cái linh cảm dù là gì thì đó cũng là
một câu chuyện u ám nặng nề khiến tôi quyết định im lặng, không hối thúc gì cậu.
Tôi chỉ hỏi liệu cậu có muốn nghỉ lại
qua đêm, và cậu gật đầu, rồi chuyện là vậy.
Chúng tôi vẫn để đèn sáng sau khi trải
futon ra. Tôi đọc sách, còn Nakajima hỏi
xin rồi bật tivi lên xem phim, và cả hai đứa im lặng không nói gì trong khoảng
thời gian dài. Khi bộ phim kết thúc và Nakajima đã tắt tivi, tôi nghĩ cũng đến
lúc nên đi ngủ, và đóng sách lại, khi đó, lúc tôi chợt nghĩ rằng thật tốt khi
có ai đó ở chung phòng, tiếng động từ những việc cậu làm nghe mới thanh thản
làm sao, thì cậu nói.
“Nói thật, tớ có vấn đề với chuyện
tình dục.”
Cậu đang nhìn chằm chằm lên trần
nhà.
“À ừ… vậy sao?” Tôi nói.
Tôi thoáng rùng mình kinh ngạc, như
thể cậu ta đang tỏ tình với mình vậy. Chẳng là tôi cứ nghĩ cậu luôn cố tình
tránh né chủ đề này.
Mới đây thôi, tôi vẫn còn mãi nghĩ về
chuyện người ta sẽ đánh mất ham muốn tình dục khi ai đó quan trọng với họ mất
đi. Như thể bao nhiêu nước trong cơ thể họ bỗng chốc bốc hơi khô cạn. Tôi cảm
thấy vậy. Thế nên giả mà Nakajima có gạ gẫm nài ép, hẳn tôi đã xách lỗ tai cậu
mà quẳng ra khỏi nhà. Đôi lúc, tôi cũng cố tình lảng tránh khi nói về chuyện
này, về cảm giác này.
Nhưng đồng thời, tôi cũng sợ chuyện
sẽ tệ hơn nếu vì điều này mà tôi đánh mất cậu.
Tôi đã khá mệt mỏi khi phải chăm sóc
cho mẹ, đến độ chẳng nghĩ nỗi rồi mình sẽ lại sớm muốn làm tình với ai đó vào một
lúc nào đó.
Hơn nữa, suốt thời gian ấy tôi chỉ
thấy mỗi mông đít và ống bô và bình tiểu, lúc xả ra lúc đút vào; điều đó hẳn cũng
ít nhiều ảnh hưởng đến cảm giác hiện tại. Khi mẹ phải đi làm xét nghiệm, tôi có
quá nhiều thời gian một mình trong bệnh viện, đến nỗi thỉnh thoảng tôi chăm sóc
luôn cả ông lão giường bên.
Hẳn tôi thấy chán, tôi nghĩ vậy, khi
nhận ra con người chỉ là da là thịt. Thịt da và nước.
Khi thay pi-gia-ma cho mẹ, tôi thoáng
nghe từ cổ áo của bà bốc lên một thứ mùi, mà bạn chỉ có thể nghĩ được đó là mùi
của nước. Giờ tôi thấy nhớ, và ước sao mình có thể ngửi lại mùi hương đó; tôi ước
mình có thể quay ngược về thời khắc đó và hít thật sâu mùi hương ấy mãi mãi –
nhưng đồng thời, nó cũng khiến tôi phải nghĩ, Chúa ơi, đúng thật rồi, con người làm nên từ nước, và thấy nặng
lòng với ý nghĩ đó.
Tôi vẫn chưa kể với Nakajima, chứ thật
ra tôi chia tay bạn trai là vì anh ta cứ đòi hỏi chuyện tình dục còn tôi thì cứ
từ chối.
Anh ta bận bịu công việc đến độ hai đứa thật sự chỉ
có thời gian bên nhau vào mỗi thứ Bảy, bởi vậy, cuối cùng thì anh ta ghé qua mỗi
tối trong tuần, hay vào chiều Chúa Nhật. Và, dĩ nhiên, chuyện luôn kết thúc
trên giường. Nhưng không đâu, chẳng thể nào tôi lại trói mình vào chuyện đó. Thì
vậy, anh ta là một gã đầy ham muốn, luôn háo hức chuyện đó, dù ngày hay đêm, bất
kể chúng tôi ở nơi nào. Cũng tốt thôi nếu bạn đang thoải mái, nhưng chẳng hay
chút nào khi đầu óc bạn đang rối bời suy nghĩ. Nói cách khác, tôi thật sự không
thích anh chàng này. Anh ta đại loại như một người bạn tình, và tình dục ngẫu
nhiên lại là thứ tôi muốn khi lần đầu quen anh ta. Quá háo hức trước mối quan hệ
mới mẻ của mình, tôi đã nhầm lẫn giữa dục vọng với tình yêu. Tôi đã nghĩ anh ta
là thứ mình muốn.
Mọi chuyện cứ diễn ra, và tôi chẳng
bao giờ hiểu được, cho đến một ngày. Tôi nhận ra mình không bao giờ muốn vén
rèm cửa lên khi anh ta ghé nhà, và tôi hiểu.
Tôi không muốn Nakajima thấy anh ta lững
thững trong nhà mình.
Đã là vậy, thì bất kể gã tôi yêu là
ai đi nữa, rõ ràng chuyện sẽ chẳng đi đến đâu.
Nhưng cũng phải nói, giờ Nakajima –
người con trai tôi thích – quanh quẩn nơi đây bên tôi suốt, và tôi vẫn không thể
làm chuyện đó bởi vẫn thấy mình thiếu hạnh phúc. Chính tôi cũng biết chuyện này
thật kỳ quặc. Trước mặt là chàng trai mà tôi thích, và tôi cũng chẳng kiềm chế
gì, ấy vậy mà chẳng thấy chút ham muốn nào. Khỏi cần phải nói, tôi cũng chẳng hề
nghĩ xem Nakajima cảm thấy thế nào.
Ít ra, tôi vẫn mơ hồ cảm thấy rồi có
một ngày mình sẽ phải lòng cậu.
Khó mà tưởng tượng ra chuyện đó, tôi
biết, nhưng ở Nakajima toát ra một bầu không khí đặc biệt khiến người ta dễ
dàng chấp nhận mọi điều, và khi đã đắm mình trong bầu không khí đó, tôi thấy dẫu
có là những thứ quái dị nhất cũng trở nên quá đỗi bình thường.
Ví
dụ, sau một khoảng thời gian ở bên Nakajima, lần đầu tiên trong đời, tôi nhận
thức rõ cái cách tôi vẫn luôn nhìn đời, cũng như trong tương lai tôi muốn nhìn cuộc
đời này ra sao. Nhờ có sự kiên định của cậu. Tất cả những chuyện mà tôi luôn lưỡng
lự, mỗi ngày mỗi nghĩ, lúc nào cũng cố ép mình thành một điều gì đó không phải
chính mình chỉ để dịu bớt những dằn xé lương tâm – những ý nghĩ chua cay về mối
quan hệ của cha và mẹ, đại loại thế, hay cái cách mẹ tôi đã sống cuộc đời bà…
Tôi đã nhìn thấu tất cả. Tự trong thâm tâm, tôi luôn thấy mình thật tệ khi không
thể cảm thông cho mẹ, người phụ nữ đã cố thích nghi với xã hội bằng những cách
thức nhạt nhẽo của chính bà, và vẫn vậy cho đến lúc mất đi. Dân tỉnh lẻ thường
không được cứng cỏi như người thành thị. Bây giờ sống một mình ở Tokyo, tôi bắt
đầu quên đi những mối dây ràng buộc xã hội đó, nhưng ở quê nhà người ta vẫn còn
coi trọng lắm, và đó là thế giới mẹ tôi thuộc về… Đã thấy mày vô tâm thế nào chưa? Tôi đã nói với chính mình. Mày phải thay đổi đi. Và tôi đã tin là vậy.
Nhưng
sau khi quen Nakajima và thấy cái cách cậu lao mình vào đời mỗi ngày, dẫu chỉ
làm những điều nhỏ nhặt nhất, những điều cậu thích, tôi mới nhận ra mình cũng
giống hệt mẹ — giống cái cách bà cố biến mình thành điều người ta mong đợi, bởi
bà sợ mình khác biệt. Tôi cũng sống với cùng sự giả tạo ấy.
Và
khi nhận ra cách sống đó sẽ chẳng giúp ích gì cho cuộc đời mình, tôi hiểu rằng
kể từ lúc này, cuộc đời của mẹ và của tôi cần phải hoàn toàn khác biệt. Giữa
tôi và bà chẳng có gì tương đồng: thời đại chúng tôi sống, cách chúng tôi nhìn
đời, điều chúng tôi trân trọng. Nói vậy không có nghĩa là tôi không yêu mẹ, hay
không tôn trọng hay không tha thứ cho bà. Đó không phải điều tôi muốn nói.
Rụt rè bóc
tách lớp vỏ của sự thương cảm giả tạo, tôi tìm thấy một ý nguyện dịu ngọt mới mẻ
để dĩ vãng chỉ là dĩ vãng, như dưới vết thương đang căng lớp da non.
Điều gì đó
chợt lóe lên trong tâm trí khi tôi khám phá ra cảm xúc này trong mình: Vậy ra trưởng thành nghĩa là thế này. Và
tôi nhận ra, dù khá muộn mằn, rằng Nakajima, cái người sống tự mình lâu này,
cũng đã trưởng thành từ rất lâu rồi.
Và không chỉ
trưởng thành: trông yếu đuối là vậy, cậu ta cũng là một người đàn ông đúng
nghĩa.
(...)
